Từ hơn hai thiên niên kỷ trước, Phật giáo đă khởi
nguồn trên vùng đồng bằng sông Hằng (Ấn Độ) và từng bước lan tỏa đến
hầu khắp châu Á, trước khi trở thành truyền thống tôn giáo mang tầm
vóc toàn cầu. Tiến tŕnh ấy không chỉ phản ánh sự mở rộng về mặt địa
lư của một tôn giáo, mà c̣n cho thấy khả năng thích ứng bền bỉ của
Phật giáo trước những biến đổi của lịch sử, văn hóa và xă hội.
Khác với quan niệm xem sự truyền bá Phật giáo
đơn thuần là kết quả của hoạt động hoằng pháp, nhiều nghiên cứu
đương đại chỉ ra rằng quá tŕnh này luôn gắn liền với các mạng lưới
thương mại, giao lưu văn hóa, dịch thuật kinh điển, hành hương, di
cư và sự bảo trợ của các thiết chế chính trị qua từng thời kỳ. Mỗi
vùng đất tiếp nhận Phật giáo đều góp phần kiến tạo những h́nh thái
phát triển riêng, làm phong phú thêm diện mạo của truyền thống Phật
giáo mà vẫn giữ được những giá trị cốt lơi của giáo pháp.
Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển
đổi số, Phật giáo tiếp tục hiện diện trong những không gian mới như
trường học, bệnh viện, các nền tảng trực tuyến và cộng đồng xuyên
biên giới. Những biến chuyển ấy đặt ra nhiều câu hỏi đáng suy ngẫm:
Điều ǵ sẽ được ǵn giữ, điều ǵ sẽ tiếp tục thích nghi và đâu là
những yếu tố giúp Phật giáo duy tŕ sức sống trong thế giới đương
đại?
Bài viết dưới đây phác họa tiến tŕnh truyền bá
của Phật giáo từ thời đức Phật đến hiện nay, đồng thời gợi mở góc
nh́n về lịch sử Phật giáo như lịch sử của những cuộc gặp gỡ, đối
thoại và chuyển hóa giữa các nền văn hóa. Qua đó, độc giả có thêm cơ
sở để nh́n nhận sự phát triển của Phật giáo không chỉ như một hiện
tượng tôn giáo, mà c̣n như một ḍng chảy văn minh có ảnh hưởng sâu
rộng đối với lịch sử nhân loại.
Từ khóa: Phật giáo, lịch sử
Phật giáo, truyền bá Phật giáo, Con đường Tơ lụa, Phật giáo châu Á,
Phật giáo toàn cầu, giao lưu văn hóa, hành hương Phật giáo, toàn cầu
hóa tôn giáo, Phật giáo đương đại.
------------
Khoảng 2.500 năm trước, đức Phật (Buddha,
Siddhārtha Gautama - Tất-đạt-đa Cồ-đàm) sống và hoằng hóa trên
vùng đồng bằng sông Hằng (Gangetic Plain), khu vực nằm gần biên giới
giữa Nepal và Ấn Độ ngày nay. Chỉ trong vài thế kỷ sau, giáo pháp
của Ngài đă vượt xa quê hương bản quán.
Phật giáo lan tỏa theo các tuyến thương mại cổ đại,
vượt biển cả, băng qua núi cao và sa mạc, nhờ bước chân của chư Tăng,
thương nhân và các vương triều bảo trợ. Trên những con đường giao
thương ấy, ngày nay vẫn c̣n hiện diện những bảo tháp (stupa), quần
thể chùa hang được trang hoàng bằng bích họa cùng nhiều thánh tích
linh thiêng khác. Mỗi vùng đất tiếp nhận Phật giáo đều tái diễn giải
truyền thống này bằng ngôn ngữ, huyền thoại và tập quán văn hóa
riêng của ḿnh.
Theo ḍng lịch sử, Phật giáo đă lan rộng đến hầu
khắp châu Á và trong thời hiện đại, truyền thống này đă trở thành
một hiện tượng mang tầm vóc toàn cầu.
Sự truyền bá của tư tưởng và thực hành Phật giáo
không diễn ra theo một hướng duy nhất, cũng không tuân theo khuôn
mẫu đồng nhất. Khởi nguồn từ Ấn Độ, giáo pháp của đức Phật đă lan
tỏa theo nhiều con đường khác nhau, dưới tác động của những điều
kiện lịch sử và nhu cầu xă hội tại từng địa phương.
Các ghi chép truyền thống thường nhấn mạnh vai
tṛ của một vị cao tăng hoặc một cư sĩ kiệt xuất trong việc mang
giáo pháp từ vùng đất này đến vùng đất khác. Tuy nhiên, thực tế lịch
sử phức tạp hơn nhiều. Quá tŕnh đưa Phật giáo đến với những vùng
đất và nền văn hóa mới là kết quả của sự tương tác giữa nhiều nhân
tố khác nhau.
Bản
đồ này khái quát các tuyến đường và những trung tâm quan trọng trong
quá tŕnh Phật giáo lan truyền khắp châu Á. Trên thực tế, sự di
chuyển của con người và tư tưởng Phật giáo diễn ra phức tạp, liên
tục và năng động hơn nhiều
so với những ǵ một tấm bản đồ có thể thể hiện. V́ vậy, bản đồ chỉ
phản ánh những khuynh hướng lịch sử tổng quát, chứ không bao quát
toàn bộ các tuyến giao lưu đă từng tồn tại. Nguồn minh họa: Wouter
F. Goedkoop - thevoyagersworkshop.com.
Trong số đó, các mạng lưới thương mại giữ vai tṛ
đặc biệt quan trọng. Những đoàn thương nhân di chuyển giữa các làng
mạc, đô thị và đế chế không chỉ trao đổi hàng hóa mà c̣n mang theo
kinh điển, những câu chuyện, h́nh tượng tôn giáo và các giá trị văn
hóa. Chư Tăng thường đồng hành cùng các đoàn lữ hành, truyền bá
phương pháp tu tập cũng như tri thức Phật học.
Các tự viện dọc theo tuyến thương mại trở thành
nơi dừng chân của khách lữ hành, vừa cung cấp chỗ lưu trú, không
gian cầu nguyện, vừa là địa điểm trao đổi hàng hóa và giao lưu văn
hóa. Chính các mối liên kết thương mại ấy đă gắn kết cộng đồng Phật
giáo với ḍng chảy rộng lớn của giao lưu kinh tế và văn minh nhân
loại.
Bên cạnh đó, sự bảo trợ của quyền lực chính trị
cũng giữ vai tṛ mang tính quyết định. Các hoàng đế, quốc vương và
tầng lớp quư tộc đă bảo hộ tự viện, tài trợ việc dịch thuật kinh
điển và kiến tạo những công tŕnh tôn giáo quy mô lớn nhằm thu hút
người hành hương. Sự hậu thuẫn của giới cầm quyền không chỉ đem lại
nguồn lực vật chất và sự bảo vệ cho cộng đồng Phật giáo, mà c̣n tạo
điều kiện để giáo pháp bén rễ và phát triển bền vững tại các vùng
đất mới.
Là một truyền thống coi trọng học thuật, tư duy
triết học và tinh thần truy vấn chân lư, Phật giáo thường được tiếp
nhận trước hết trong giới trí thức và học giả. Nhiều nhà cầm quyền
cũng nh́n nhận Phật giáo như một nguồn lực giúp củng cố tính chính
danh của vương quyền, tăng cường sự gắn kết giữa các cộng đồng đa
sắc tộc, đồng thời mở rộng quan hệ với các mạng lưới giao lưu quốc
tế.
Trong bối cảnh đó, việc cử các sứ đoàn và phái bộ
Phật giáo đă trở thành một đặc điểm nổi bật của hoạt động ngoại giao
ở nhiều quốc gia thời tiền hiện đại.
Nếu chư Tăng giữ vai tṛ truyền bá giáo pháp th́
hàng cư sĩ cũng có vị trí không thể thay thế. Các phật tử tại gia đă
cúng dường nơi ở, thực phẩm và y phục cho tăng đoàn, đồng thời đưa
giáo pháp vào đời sống thường nhật của cộng đồng. Qua nhiều thế hệ,
các gia đ́nh lưu truyền những câu chuyện về đức Phật, duy tŕ mối
liên hệ với chùa chiền và tự viện địa phương, thậm chí gửi con em
xuất gia tu học.
Trong những giai đoạn sự bảo trợ của triều đ́nh
suy giảm, chính cộng đồng cư sĩ đă ǵn giữ nhiều truyền thống Phật
giáo vốn có nguy cơ mai một. Bên cạnh đó, các cộng đồng di cư cũng
mang theo niềm tin và thực hành Phật giáo đến những quê hương mới,
góp phần mở rộng phạm vi ảnh hưởng của truyền thống này.
Bước sang thời hiện đại, sự gia tăng tŕnh độ dân
trí, hoạt động xuất bản kinh điển và các bản dịch, vai tṛ ngày càng
nổi bật của các giảng sư cư sĩ, cùng sự phát triển của truyền thông
số đă mở ra những phương thức truyền bá hoàn toàn mới. Giao lưu quốc
tế và sự phát triển của các phương tiện liên lạc khiến Phật giáo trở
thành một truyền thống mang tính toàn cầu. Đồng thời, các thánh tích
Phật giáo tại Ấn Độ không chỉ là điểm hành hương của phật tử mà c̣n
trở thành những điểm đến văn hóa - du lịch nổi tiếng, được lan tỏa
mạnh mẽ thông qua hàng triệu bài viết và h́nh ảnh trên mạng xă hội.
Trong suốt lịch sử hơn hai thiên niên kỷ, Phật
giáo đă chứng kiến sự xuất hiện rồi suy tàn của nhiều phong trào và
tông phái khác nhau. Tuy nhiên, tiến tŕnh truyền bá của Phật giáo
chưa bao giờ là một quá tŕnh tĩnh tại. Trái lại, đó luôn là một
ḍng chảy năng động, không ngừng thích nghi trước những biến đổi của
thương mại, quyền lực chính trị và ḷng hộ tŕ của quảng đại quần
chúng.
Sau khi thành Đạo, đức Phật tập hợp những đệ tử
đầu tiên quanh ḿnh và cử họ đến các làng mạc, thị trấn lân cận để
truyền bá giáo pháp. Ngài khuyến khích các đệ tử giảng dạy Chính
pháp (Dharma/Dhamma) bằng chính ngôn ngữ địa phương nơi họ đến. Chủ
trương này đă đặt nền móng cho tinh thần hoằng pháp rộng mở của Phật
giáo ngay từ buổi đầu h́nh thành.
Bảo
tháp Xá lợi Vaiśālī (Vaishali Relic Stupa) được xem là bảo tháp Phật
giáo cổ nhất hiện được khảo cổ học ghi nhận. Công tŕnh do người
Licchavi ở Vaiśālī xây dựng, một trong tám cộng đồng đă tiếp nhận xá
lợi của
đức Phật sau lễ trà-tỳ. Bảo tháp được xác định niên đại vào khoảng
thế kỷ V trước Tây lịch. Nguồn: Wikimedia Commons.
Các vị xuất gia đi bộ từ nơi này sang nơi khác,
sống bằng hạnh khất thực và nương tựa vào sự cúng dường của cư sĩ
tại gia, đúng như cách đức Phật đă thực hành trong suốt cuộc đời
hoằng hóa của ḿnh.
Các kinh điển Phật giáo, tiêu biểu như Kinh Đại
Bát Niết-bàn Pāli (Mahāparinibbāna Sutta), xác định bốn thánh địa có
ư nghĩa đặc biệt đối với phật tử:
+ Lumbinī (Lâm-tỳ-ni) - nơi đức
Phật Đản sinh.
+ Bodhgayā (Bồ Đề Đạo Tràng) -
nơi Ngài Thành đạo dưới cội Bồ đề.
+ Sārnāth (Lộc Uyển) - nơi đức
Phật chuyển Pháp luân lần đầu tiên.
+ Kusinagara (Câu-thi-na/Câu-thi-na-la)
- nơi đức Phật nhập Niết-bàn.
Không lâu sau đó, nhiều tự viện, bảo tháp và đền
thờ được xây dựng quanh các thánh địa này, thu hút đông đảo người
hành hương từ nhiều nơi. Chính các trung tâm linh thiêng ấy đă góp
phần đưa giáo pháp vượt ra ngoài phạm vi của những cộng đồng Phật
giáo sơ khai.
Phật giáo phát triển mạnh tại các khu vực có hoạt
động thương mại sầm uất và các đô thị đang mở rộng. Giới thương nhân
cùng tầng lớp tinh hoa xă hội đă tích cực bảo trợ các tự viện, vốn
vừa là nơi lưu trú của khách lữ hành, vừa là không gian gặp gỡ và
giao lưu. Nhờ vậy, Phật giáo ngày càng gắn bó với đời sống đô thị.
Nguồn tài lực từ các thành thị cũng góp phần xây dựng những quần thể
tự viện quy mô lớn, tiêu biểu như Amarāvatī (A-ma-la-bạt-đề) ở miền
Nam Ấn Độ, nơi dần trở thành trung tâm tín ngưỡng, học thuật và hành
hương quan trọng.
Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, cùng với sự phát
triển của Tăng đoàn (Saṅgha), nhiều kỳ kết tập kinh điển được tổ
chức nhằm hệ thống hóa và xác thực các lời dạy vốn được truyền khẩu.
Từ đó, những bộ kinh điển đầu tiên lần lượt được h́nh thành.
Giới luật của Tăng đoàn cũng được chuẩn hóa, tạo
nên nền tảng ổn định và thẩm quyền cho đời sống tu viện.
Theo thời gian, Tăng đoàn phân hóa thành nhiều bộ
phái với những cách diễn giải giáo pháp khác nhau. Mỗi bộ phái tiếp
tục truyền bá đến các khu vực riêng, h́nh thành các trung tâm và
truyền thừa khác nhau, tạo nên diện mạo đa dạng của Phật giáo ngay
từ giai đoạn đầu lịch sử.
Đế quốc Maurya (khoảng 320-185 trước Tây lịch) là
thế lực chính trị đầu tiên dành cho Phật giáo sự bảo trợ mạnh mẽ
trên quy mô lớn. Xuất phát từ vùng Magadha (Ma Kiệt Đà), quê hương
lịch sử của Phật giáo, Hoàng đế A Dục (Ashoka, khoảng 304-232 trước
Tây lịch) đă quy y Phật giáo và đưa các giá trị của giáo pháp trở
thành một phần trong chính sách trị quốc.
Những chiếu dụ khắc trên đá của vua A Dục, nhiều
bản vẫn c̣n tồn tại đến ngày nay, đă truyền bá rộng răi lư tưởng đạo
đức dựa trên giáo pháp của đức Phật khắp đế quốc. Nhà vua cũng cho
xây dựng nhiều bảo tháp và tự viện, giúp tăng đoàn có thêm nguồn lực
và nâng cao vị thế trong xă hội.
Các phái đoàn truyền giáo được vua A Dục cử đi đă
đưa Phật giáo thời kỳ đầu lan rộng khắp tiểu lục địa Ấn Độ và vượt
ra ngoài biên giới.
Ở vùng Tây Bắc tiểu lục địa Ấn Độ, Gandhāra (Kiền-đà-la)
phát triển thành một trung tâm Phật giáo phồn thịnh, nơi nghệ thuật,
kinh điển và nhiều tư tưởng mới cùng phát triển mạnh mẽ. Cùng với
các trung tâm ở miền Nam Ấn Độ, Gandhāra trở thành một trong những
bàn đạp quan trọng đưa Phật giáo tiếp tục mở rộng khắp châu Á.
Theo truyền thống, Phật giáo được truyền đến Sri
Lanka (Tích Lan, nay là Sri Lanka) vào khoảng thế kỷ III trước Tây
lịch. Tương truyền, Trưởng lăo Mahinda - con trai của vua A Dục đă
cảm hóa Quốc vương Devanampiya Tissa sau cuộc gặp gỡ tại một khu
vườn hoàng gia.
Không lâu sau đó, Trưởng lăo Ni Saṅghamittā (Sanghamittā)
- con gái vua A Dục mang sang Sri Lanka một nhánh của cây Bồ đề từ
Bodhgayā, chính là hậu duệ của cây Bồ đề nơi đức Phật thành đạo.
Nhánh cây này được trồng tại Anurādhapura, rồi nhanh chóng trở thành
một trong những trung tâm hành hương quan trọng nhất của thế giới
Phật giáo.
Thuparamaya
được xem là quần thể chùa cổ nhất tại Sri Lanka, có niên đại từ thời
Phật giáo được truyền đến ḥn đảo này vào khoảng thế kỷ III trước
Tây lịch. Nguồn: Explore Sri Lanka / Flickr Creative Commons.
Những câu chuyện truyền thống này đánh dấu Sri
Lanka là một trong những trung tâm Phật giáo sớm nhất ngoài Ấn Độ.
Dưới sự bảo trợ của hoàng gia, nhiều tự viện được xây dựng. Đến thế
kỷ I trước Tây lịch, các lời dạy vốn được truyền khẩu đă được ghi
chép thành văn và kết tập thành Tam tạng Pāli (Pāli Canon).
Việc văn bản hóa kinh điển đă tạo nền tảng ổn
định cho Tăng đoàn, đồng thời đưa Sri Lanka trở thành trung tâm học
thuật có ảnh hưởng sâu rộng đối với thế giới Phật giáo. Theo thời
gian, Phật giáo Sri Lanka phát triển bản sắc riêng. Đến thế kỷ V,
với trước tác của vị luận sư Buddhaghosa (Phật Âm), truyền thống
ngày nay được gọi là Phật giáo Theravāda (Thượng tọa bộ) đă định
h́nh rơ nét trên nền tảng này.
Từ Sri Lanka và Nam Á, Phật giáo tiếp tục lan
rộng sang Đông Nam Á. Trong những thế kỷ đầu Tây lịch cho đến hết
thiên niên kỷ thứ nhất, các vương triều tại những khu vực ngày nay
là Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Malaysia và Indonesia lần lượt
tiếp nhận Phật giáo, đồng thời sử dụng tôn giáo này như một phương
tiện củng cố quốc gia và tăng cường kết nối với các mạng lưới thương
mại khu vực.
Từ thế kỷ XI đến XIII, Phật giáo Theravāda trở
thành truyền thống chủ đạo tại Myanmar, Thái Lan, Campuchia và Lào,
nhờ mối liên hệ chặt chẽ với Sri Lanka. Trong khi đó, tại Malaysia,
Indonesia và nhiều đảo khác thuộc quần đảo Mă Lai, Phật giáo dần suy
giảm vào thế kỷ XV-XVI cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Hồi giáo.
Ở các quốc gia theo truyền thống Theravāda, những
h́nh thức tín ngưỡng bản địa đă góp phần làm sâu sắc thêm đời sống
Phật giáo. Tại Sri Lanka, Xá lợi Răng Phật trở thành một trong những
thánh tích hành hương quan trọng nhất, đồng thời gắn bó mật thiết
với quyền lực vương triều. Các vị quốc vương xem việc bảo hộ thánh
tích này là cơ sở khẳng định tính chính danh của quyền cai trị.
Khắp Đông Nam Á, chùa chiền và bảo tháp trở thành
trung tâm của đời sống cộng đồng, được duy tŕ nhờ sự hộ tŕ của các
gia đ́nh phật tử và giới thương nhân giàu có.
Cho đến ngày nay, Sri Lanka và khu vực Đông Nam Á
lục địa vẫn là những trung tâm Phật giáo có ảnh hưởng sâu rộng, tiếp
tục định h́nh sự phát triển của truyền thống này và duy tŕ vị thế
của Phật giáo như tôn giáo chủ đạo tại nhiều quốc gia trong khu vực.
Từ khoảng thế kỷ III trước Tây lịch, Phật giáo
bắt đầu lan truyền vào Trung Á theo các tuyến lữ hành mà về sau được
gọi là Con đường Tơ lụa (Silk Road). Các đoàn thương nhân, chư Tăng
và người hành hương vượt qua những sa mạc rộng lớn cùng các dăy núi
hiểm trở, thiết lập tự viện và đền thờ tại các đô thị ốc đảo, tạo
nên nền tảng cho sự phát triển của Phật giáo trong khu vực.
Quần thể
hang Thiên Phật Bezeklik, được xây dựng từ thế kỷ V đến XIII, được
đục vào các vách đá cao bên ŕa sa mạc Taklamakan, dọc theo Con
đường Tơ lụa. Cộng đồng Phật tử Duy Ngô Nhĩ của Vương quốc Qocho
từng kiểm soát khu vực này trong nhiều thế kỷ và giữ vai tṛ đặc
biệt quan trọng trong việc truyền bá Phật giáo giữa Đông Á, Trung Á
và Nam Á.
Nguồn: HaziiDozen / Wikimedia Creative Commons.
Những quần thể hang động quy mô lớn như hang Mạc
Cao (Mogao Caves) tại Đôn Hoàng, hang Kizil và hang Bezeklik trở
thành những trung tâm Phật giáo quan trọng, đồng thời lưu giữ những
chứng tích sống động nhất về quá tŕnh truyền bá Phật giáo dọc theo
Con đường Tơ lụa. Chính mạng lưới Trung Á này đă đưa giáo lư, nghệ
thuật và nghi lễ Phật giáo từ Ấn Độ lan sang Ba Tư, Trung Quốc,
Triều Tiên, thậm chí vươn tới Ai Cập và Đế quốc La Mă.
Một trong những trung tâm Phật giáo sớm nhất là
Gandhāra (Kiền-đà-la), thuộc khu vực miền Bắc Pakistan và
Afghanistan ngày nay. Phật giáo đă hiện diện tại đây từ thế kỷ III
trước Tây lịch và đặc biệt hưng thịnh dưới thời Đế quốc Kushan (khoảng
năm 30-375 Tây lịch), khi Gandhāra trở thành một trung tâm văn hóa
Phật giáo rực rỡ.
Trong một giai đoạn ngắn, Đế quốc Macedonia của
Alexandros Đại đế (Alexander the Great, 336-323 trước Tây lịch) kiểm
soát một phần Gandhāra, tạo điều kiện để Phật giáo tiếp xúc với nền
văn minh Hy Lạp hóa (Hellenistic). Các tự viện tại Gandhāra đă lưu
giữ một số bản kinh cổ nhất c̣n tồn tại, đào tạo nhiều thế hệ tăng
sĩ và đặc biệt sáng tạo nên những tượng đức Phật mang h́nh người đầu
tiên trong lịch sử nghệ thuật Phật giáo. Những thành tựu này theo
chân thương nhân và người hành hương lan khắp Trung Á và nhiều khu
vực khác, góp phần h́nh thành diện mạo mới của truyền thống Phật
giáo.
Từ khoảng thế kỷ I đến III Tây lịch, phần lớn
kinh điển được lưu truyền trên các tuyến đường này là kinh điển Đại
thừa (Mahāyāna). Khi được truyền đến Trung Á và dịch sang các ngôn
ngữ bản địa, chúng đă chuẩn bị nền tảng để Đại thừa trở thành truyền
thống Phật giáo chủ đạo tại Trung Á và Đông Á. Những câu chuyện về
các vị quốc vương quy y Phật giáo, các xá lợi linh thiêng cùng niềm
tin vào năng lực hộ tŕ của kinh điển đă khuyến khích các triều đ́nh
và giới quư tộc tiếp tục bảo trợ Phật giáo, giúp truyền thống này
bén rễ vững chắc tại nhiều vùng đất mới.
Đến khoảng thế kỷ IX-XI, các vương quốc Duy Ngô
Nhĩ (Uyghur) tiếp tục mở ra làn sóng bảo trợ mới. Kiểm soát khu vực
ḷng chảo Tarim, phía bắc Tây Tạng, tầng lớp cầm quyền Duy Ngô Nhĩ
tài trợ xây dựng tự viện, chùa hang và các trung tâm dịch thuật,
giúp Phật giáo tiếp tục hưng thịnh tại Trung Á ngay cả khi tôn giáo
này bắt đầu suy giảm trên chính quê hương Ấn Độ. Các học giả và dịch
giả Duy Ngô Nhĩ giữ vai tṛ quan trọng trong việc truyền bá kinh
điển, nghệ thuật và nghi lễ Phật giáo sang Đông Á và Đông Bắc Á.
Khi Phật giáo mở rộng sâu rộng vào Đông Á, truyền
thống này thực chất đă trải qua nhiều thế kỷ thích nghi, chuyển hóa
và phát triển tại cả Ấn Độ lẫn Trung Á.
Phật giáo được truyền vào Trung Quốc khoảng thế
kỷ I-II Tây lịch thông qua cả đường bộ và đường biển. Những đoàn lữ
hành từ Trung Á mang theo kinh điển, xá lợi và các h́nh thức thực
hành Phật giáo vượt Con đường Tơ lụa đến Trung Hoa, trong khi các
thương thuyền cập bến những cảng phía Nam như Quảng Châu (Guangzhou)
cũng góp phần đưa Phật giáo vào vùng duyên hải.
Một trong những nhân vật tiên phong và có ảnh
hưởng sâu rộng nhất là An Thế Cao (An Shigao, khoảng 148-180 Tây
lịch). Ngài vốn là một hoàng tử của Đế quốc Parthia (247 trước Tây
lịch - 224 Tây lịch, c̣n gọi là An Tức), sau xuất gia và đến Lạc
Dương (Luoyang) - kinh đô của triều đ́nh và cũng là điểm cuối phía
Đông của Con đường Tơ lụa vào khoảng giữa thế kỷ II. Tại đây, Ngài
dịch nhiều kinh thiền và các kinh điển Phật giáo thời kỳ đầu sang
tiếng Hán, đặt nền móng cho sự hiện diện lâu dài của Phật giáo tại
Trung Quốc.
Đại Nhạn
Tháp (Dayan Ta) tại Trường An, một trong những kinh đô cổ của nhiều
triều đại Trung Hoa, được xây dựng vào thế kỷ VII để lưu giữ kinh
điển và tượng Phật do ngài Huyền Trang mang về sau chuyến thỉnh kinh
từ Ấn Độ. Ban đầu, tháp gồm năm tầng bằng gạch và đất nện; trải qua
nhiều thế kỷ, công tŕnh đă nhiều lần được trùng tu và mở rộng.
Nguồn: Mark Fischer / Flickr Creative Commons.
Đến thế kỷ III-IV, các cộng đồng Phật giáo đă
h́nh thành tại nhiều đô thị dọc Con đường Tơ lụa. Các vị tăng Trung
Á tiếp tục truyền bá kinh điển và tư tưởng Đại thừa, trong khi sự
bảo trợ của hoàng gia và tầng lớp quư tộc tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động dịch thuật cũng như xây dựng tự viện.
Trong số những dịch giả kiệt xuất nhất phải kể
đến Cưu Ma La Thập (Kumārajīva, 344-413 Tây lịch), vị cao tăng và
học giả gốc Trung Á đến định cư tại Trường An (Chang’an, nay là Tây
An) vào đầu thế kỷ V. Với tŕnh độ ngôn ngữ xuất chúng, Ngài cùng
các cộng sự đă chuyển dịch nhiều bộ kinh Đại thừa quan trọng sang
Hán văn, góp phần định h́nh hệ thống thuật ngữ, văn phong và nền
tảng học thuật của Phật giáo Đông Á trong nhiều thế kỷ sau.
Không chỉ tiếp nhận giáo pháp từ bên ngoài, các
cao tăng Trung Quốc cũng trực tiếp lên đường t́m cầu Phật pháp. Pháp
Hiển (Faxian, khoảng 337-422), Huyền Trang (Xuanzang, 602-664) và
Nghĩa Tịnh (Yijing, 635-713) lần lượt vượt đường bộ và đường biển
sang Ấn Độ cùng Trung Á để cầu học. Khi trở về, các ngài mang theo
kinh điển, xá lợi và những ghi chép hết sức chi tiết về sinh hoạt
Phật giáo tại các quốc gia đă đi qua. Những chuyến hành tŕnh ấy đă
tạo nên ḍng giao lưu hai chiều giữa Trung Quốc với toàn bộ thế giới
Phật giáo đương thời.
Qua nhiều triều đại, Trung Quốc trở thành nơi hội
tụ của nhiều truyền thống Phật giáo khác nhau. Các bộ phái Phật giáo
Ấn Độ thời kỳ đầu, kinh điển Đại thừa và về sau là các pháp tu Mật
giáo (Esoteric Buddhism) cùng Kim Cương thừa (Tantric Buddhism) đều
lần lượt bén rễ tại đây.
Đến thế kỷ VI, Phật giáo đă được xác lập vững
chắc trên phần lớn lănh thổ Trung Hoa. Các triều đại liên tiếp bảo
trợ việc xây dựng tự viện cũng như những quần thể hang động quy mô
lớn như hang đá Vân Cương (Yungang Grottoes) và hang đá Long Môn (Longmen
Grottoes). Những công tŕnh này không chỉ là trung tâm tín ngưỡng và
hành hương mà c̣n trở thành đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc Phật
giáo thế giới.
Đại Tạng kinh Hán văn (Chinese Buddhist Canon),
được biên soạn và bổ sung qua nhiều thế kỷ, đă bảo tồn một khối
lượng đồ sộ kinh điển và trước tác Phật giáo, trong đó có không ít
văn bản gốc đă thất truyền tại Ấn Độ. Từ khoảng thế kỷ VII đến X,
cùng với sự phát triển của kỹ thuật in khắc gỗ, kinh điển Phật giáo
được in ấn với số lượng lớn và phổ biến rộng răi tới các tự viện
cũng như giới trí thức. Đặc biệt, bản in Kinh Kim Cương (Diamond
Sutra) có niên đại thế kỷ IX hiện được xem là cuốn sách in có ghi rơ
niên đại cổ nhất c̣n tồn tại trên thế giới.
Trung Quốc đồng thời trở thành một trung tâm sáng
tạo của Phật giáo, nơi h́nh thành nhiều truyền thống triết học, học
thuật và Mật giáo mang bản sắc riêng. Trong quá tŕnh phát triển,
Phật giáo cũng không ngừng đối thoại và tương tác với Nho giáo và
Đạo giáo, từ đó h́nh thành những phương thức tu tập và hệ thống tư
tưởng đặc trưng của Phật giáo Trung Hoa.
Đáng chú ư nhất là sự ra đời của Thiền tông
(Chan) tại Trung Quốc. Từ đây, Thiền tông tiếp tục truyền sang Việt
Nam, Triều Tiên, Nhật Bản và nhiều khu vực khác. Ngày nay, tại các
nước phương Tây, những truyền thống thiền định này thường được biết
đến dưới tên gọi chung Zen. Tuy nhiên, trên thực tế, mỗi truyền
thống tại Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản đều sở hữu
lịch sử phát triển, phương pháp thực hành và hệ thống giáo lư riêng
biệt.
Theo các tuyến giao thương đường biển từ Ấn Độ và
Đông Nam Á, những ḍng truyền thừa Phật giáo đầu tiên đă đến Việt
Nam vào khoảng thế kỷ II Tây lịch. Theo các tư liệu truyền thống,
nhiều vị tăng đă theo đường biển cập bến Luy Lâu (nay thuộc tỉnh Bắc
Ninh, gần Hà Nội), xây dựng chùa tháp và h́nh thành một trong những
trung tâm Phật giáo sớm nhất của Đông Á.
Về sau, quá tŕnh giao lưu với các triều đại
Trung Hoa đưa thêm nhiều kinh điển và pháp môn Đại thừa (Mahāyāna)
vào Việt Nam. Trong tiến tŕnh phát triển, Phật giáo Việt Nam không
chỉ tiếp thu ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Hoa mà c̣n ḥa quyện với
Nho giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng bản địa, tạo nên bản sắc riêng
biệt. Đến thời kỳ thuộc địa và kéo dài sang thế kỷ XX, Phật giáo trở
thành một nguồn sức mạnh tinh thần quan trọng, góp phần nuôi dưỡng
bản sắc dân tộc và tinh thần kháng cự, qua đó bảo đảm sự tiếp nối
của truyền thống này trước những biến động lịch sử.
Chùa Dâu, có
lịch sử từ khoảng thế kỷ II Tây lịch, được xem là ngôi chùa cổ nhất
của Việt Nam và cũng là một trong những ngôi chùa cổ nhất Đông Á.
Nằm tại trung tâm Luy Lâu, đô thị cổ từng giữ vị trí quan trọng trên
các tuyến giao thương đường bộ và đường biển, chùa Dâu là nơi dừng
chân của nhiều đoàn tăng sĩ và người hành hương thuộc các truyền
thống Phật giáo khác nhau. Nguồn: vietnamonline.com.
Từ góc nh́n lịch sử Phật giáo khu vực, Việt Nam
không chỉ là nơi tiếp nhận giáo pháp mà c̣n là điểm kết nối quan
trọng trong mạng lưới giao lưu giữa Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á. Nhờ
vị trí nằm trên các tuyến thương mại đường biển và đường bộ từ rất
sớm, đặc biệt thông qua trung tâm Luy Lâu, Phật giáo đă hiện diện
tại Giao Châu từ những thế kỷ đầu Tây lịch với sự tham gia của nhiều
tăng sĩ và thương nhân đến từ Ấn Độ, Trung Á và các vùng duyên hải
Đông Nam Á.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy Luy Lâu từng là
một trong những trung tâm Phật giáo sớm nhất ở Đông Á, nơi diễn ra
hoạt động dịch thuật, giảng dạy và giao lưu giữa các truyền thống
Phật giáo khác nhau trước khi nhiều trung tâm Phật giáo ở miền Nam
Trung Quốc phát triển mạnh. Từ đây, các ḍng tư tưởng Phật giáo tiếp
tục lan tỏa theo nhiều hướng, đồng thời tiếp nhận ảnh hưởng từ Trung
Hoa để h́nh thành diện mạo riêng của Phật giáo Việt Nam.
Trong quá tŕnh phát triển, Phật giáo Việt Nam
thể hiện khả năng dung hợp nổi bật giữa tư tưởng Đại thừa, truyền
thống Thiền học, yếu tố Tịnh độ cùng tín ngưỡng bản địa, đồng thời
có sự tương tác lâu dài với Nho giáo và Đạo giáo. Sự tiếp biến này
không làm mất đi bản sắc của Phật giáo mà trái lại tạo nên một
truyền thống vừa gắn bó với đời sống dân tộc, vừa duy tŕ mối liên
hệ với các trung tâm Phật giáo trong khu vực.
Từ góc nh́n lịch sử truyền bá Phật giáo, trường
hợp Việt Nam cho thấy thực tế đáng chú ư: sự lan tỏa của Phật giáo
không diễn ra theo một chiều từ trung tâm đến ngoại vi, mà h́nh
thành thông qua mạng lưới giao lưu đa hướng, trong đó mỗi địa phương
vừa tiếp nhận, vừa sáng tạo và tiếp tục truyền trao những giá trị
của Phật pháp trong bối cảnh văn hóa của ḿnh.
Tại Hàn Quốc, Phật giáo được truyền từ Trung Quốc
vào khoảng thế kỷ IV Tây lịch. Năm 372, một vị tăng do nước Tiền Tần
(Qin) phái đến đă chính thức truyền Phật giáo vào vương quốc Cao Câu
Ly (Goguryeo, 37 trước Tây lịch - 668 Tây lịch). Không lâu sau, Phật
giáo tiếp tục được tiếp nhận tại Bách Tế (Baekje, 18 trước Tây lịch
- 660 Tây lịch) và Tân La (Silla, 57 trước Tây lịch - 935 Tây lịch).
Đến thời vương triều Cao Ly (Goryeo, 918-1392),
Phật giáo bước vào thời kỳ cực thịnh. Triều đ́nh bảo trợ việc xây
dựng tự viện, tổ chức các nghi lễ quy mô lớn và thực hiện nhiều công
tŕnh đồ sộ, nổi bật nhất là Đại Tạng kinh Cao Ly (Tripitaka Koreana),
được khắc trên hơn 80.000 bản mộc với độ chính xác và giá trị học
thuật đặc biệt.
Khi triều đại Triều Tiên (Joseon, 1392-1910) lên
nắm quyền, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống của quốc gia.
Phật giáo mất dần sự bảo trợ của triều đ́nh, nhiều đặc quyền bị băi
bỏ. Tuy nhiên, các tự viện nằm sâu trong núi cùng ḷng hộ tŕ bền bỉ
của hàng cư sĩ đă giúp truyền thống này tiếp tục được duy tŕ.
Nhật Bản tiếp nhận Phật giáo vào khoảng giữa thế
kỷ VI Tây lịch. Theo truyền thống, khoảng năm 552, quốc vương Bách
Tế đă gửi đến triều đ́nh Yamato một pho tượng đức Phật cùng kinh
điển như món quà ngoại giao. Không lâu sau, Phật giáo nhận được sự
bảo trợ mạnh mẽ của hoàng gia, đặc biệt dưới thời Thái tử Shōtoku
(574-622), người đă cho xây dựng một số ngôi chùa Phật giáo sớm nhất
tại Nhật Bản.
Trong nhiều thế kỷ tiếp theo, Phật giáo trở thành
một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Nhật Bản, ảnh hưởng sâu
sắc đến nghệ thuật, văn học, triết học và đời sống chính trị. Tuy
vậy, truyền thống này cũng trải qua nhiều thử thách. Trong thời Minh
Trị (Meiji, 1868-1912), khi Thần đạo (Shintō) được tôn lên thành hệ
tư tưởng quốc gia, Phật giáo bị tước bỏ nhiều đất đai và đặc quyền.
Đến giai đoạn Đế quốc Nhật Bản (1868-1947), nhiều pháp khí và hiện
vật quư trong chùa chiền c̣n bị nấu chảy để phục vụ nhu cầu chiến
tranh.
Dẫu vậy, Phật giáo vẫn vượt qua những biến động
ấy. Các truyền thống như Thiền (Zen), Nhật Liên tông (Nichiren) và
Tịnh độ tông (Pure Land) tiếp tục phát triển mạnh mẽ và dần lan rộng
ra nhiều quốc gia trên thế giới.
Mặc dù mỗi quốc gia lựa chọn con đường phát triển
riêng, Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản đều tiếp nhận Phật giáo thông
qua sự kết hợp giữa truyền thuyết, sự bảo trợ của vương quyền và quá
tŕnh bản địa hóa. Ngay cả trong những giai đoạn bị hạn chế hoặc đàn
áp, Phật giáo vẫn duy tŕ vị thế là một truyền thống tôn giáo quan
trọng, đồng thời trở thành cầu nối cho sự giao lưu văn hóa trong
toàn khu vực Đông Á.
So với nhiều khu vực khác ở châu Á, Phật giáo đến
với Tây Tạng muộn hơn. Mặc dù ảnh hưởng của Phật giáo từ Ấn Độ,
Trung Quốc và Trung Á đă xuất hiện từ trước, phải đến thế kỷ VII Tây
lịch, truyền thống này mới thực sự được xác lập một cách bền vững.
Bước ngoặt diễn ra khi Quốc vương Songtsen Gampo (Tùng Tán Cán Bố,
605-650) kết hôn với hai công chúa đến từ Nepal và Trung Quốc. Theo
truyền thống, các vị công chúa mang theo kinh điển, tượng Phật và
nhiều pháp bảo như của hồi môn, tạo điều kiện để Phật giáo từng bước
hiện diện trong triều đ́nh, dù các tín ngưỡng bản địa mang màu sắc
shaman vẫn c̣n giữ ảnh hưởng sâu rộng.
Samye
Migyur Lhundrub Tsula Khang, thường được gọi là tu viện Samye, được
xây dựng vào thế kỷ VIII và là tu viện Phật giáo đầu tiên của Tây
Tạng. Theo truyền thống, khu đất xây dựng tu viện đă được Liên Hoa
Sinh (Padmasambhava) - vị đại thành tựu giả Kim Cương thừa đến từ Ấn
Độ - cử hành nghi thức gia tŕ trước khi khởi công. Nguồn: Luca
Galuzzi / Wikimedia Creative Commons.
Đến thế kỷ VIII, Quốc vương Trisong Detsen
(742-797) mời nhiều bậc cao tăng Ấn Độ sang Tây Tạng, nổi bật nhất
là nhà triết học Śāntarakṣita (Tịch Hộ, 725-788) và bậc đạo sư Kim
Cương thừa (Vajrayāna) Padmasambhava (Liên Hoa Sinh, khoảng thế kỷ
VIII).
Trong truyền thống Tây Tạng, Liên Hoa Sinh được
tôn kính như một nhân vật huyền thoại. Ngài được xem là người hàng
phục các thần linh và thế lực bản địa, dung hợp vào thế giới quan
Phật giáo, từ đó mở đường cho việc xây dựng tu viện Samye - tu viện
Phật giáo đầu tiên tại Tây Tạng. Trong khi đó, ngài Tịch Hộ đào tạo
thế hệ tăng sĩ đầu tiên của Tây Tạng, nhiều vị sau này tham gia dịch
thuật các kinh điển nền tảng sang tiếng Tây Tạng.
Đến giữa thế kỷ IX, Đế quốc Tây Tạng suy sụp, kéo
theo sự tan ră của nhiều tự viện lớn, mở đầu khoảng 150 năm phân
quyền và chia cắt chính trị.
Phong trào phục hưng bắt đầu từ thế kỷ XI khi vị
đại sư Ấn Độ Atīśa (A Đề Sa, 982-1054) được thỉnh sang Tây Tạng. Ảnh
hưởng của Ngài đă tạo động lực cho thời kỳ hưng thịnh mới, dẫn đến
sự h́nh thành của nhiều truyền thống Phật giáo quan trọng.
Theo thời gian, bốn ḍng truyền thừa lớn gồm
Nyingma (Ninh Mă), Kagyu (Ca Nhĩ Cư), Sakya (Tát Ca) và Gelug (Cách
Lỗ) lần lượt định h́nh, mỗi truyền thống đều kế thừa các công tŕnh
dịch thuật và giáo pháp Kim Cương thừa từ Ấn Độ. Những tu viện thuộc
các ḍng truyền thừa này dần trở thành các trung tâm lớn về học
thuật, nghi lễ và quyền uy tôn giáo.
Từ Tây Tạng, Phật giáo tiếp tục lan sang Bhutan,
Sikkim, Ladakh và Nepal, ḥa quyện với các truyền thống địa phương
để h́nh thành những sắc thái đặc trưng của Phật giáo vùng Himalaya.
Tại thung lũng Kathmandu, truyền thống Phật giáo Newar
đă bảo tồn nhiều thực hành Kim Cương thừa cổ xưa, góp phần định h́nh
bản sắc tôn giáo của toàn khu vực.
Các hoàng gia và tầng lớp quư tộc bảo trợ việc
xây dựng tự viện, thỉnh mời các bậc đạo sư và sử dụng Phật giáo như
một phương tiện củng cố quyền lực chính trị. Đồng thời, cộng đồng cư
sĩ cũng duy tŕ đời sống Phật giáo thông qua các hoạt động hành
hương, cúng dường và ḷng sùng kính đối với các Lạt-ma (Lama) cùng
những vị hóa thân (Tulku) được tôn kính.
Đến khoảng thế kỷ XV, những h́nh thái của Phật
giáo Tây Tạng như chúng ta biết ngày nay đă trở thành truyền thống
chủ đạo trên cao nguyên Tây Tạng cũng như phần lớn khu vực Himalaya,
đồng thời mở rộng ảnh hưởng sang Trung Á, Mông Cổ, Măn Châu và miền
Bắc Trung Quốc.
Tuy nhiên, thế kỷ XX đă mang đến những biến động
sâu sắc. Sau cuộc biến động tại Tây Tạng năm 1959, hàng chục ngh́n
người Tây Tạng phải rời quê hương và sống lưu vong tại nhiều quốc
gia. Chính cộng đồng lưu vong này đă mang theo các truyền thống Phật
giáo Tây Tạng ra thế giới, tạo nên bước ngoặt quan trọng trong quá
tŕnh toàn cầu hóa của Phật giáo Tây Tạng.
Tại khu vực Đông Bắc Á, Phật giáo lan truyền qua
Măn Châu (nay là vùng Đông Bắc Trung Quốc) và Mông Cổ theo các tuyến
thương mại kết nối Trung Quốc, Triều Tiên và Trung Á. Những khu vực
này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau thông qua hoạt động thương mại
và ngoại giao. Các triều đ́nh sử dụng các thiết chế Phật giáo như
công cụ hỗ trợ quản trị quốc gia, trong khi thương nhân và chư Tăng
mang giáo pháp vượt qua những thảo nguyên rộng lớn. Các tuyến giao
lưu giữa bán đảo Triều Tiên và Măn Châu c̣n kết nối với mạng lưới
hàng hải hướng tới Nhật Bản, h́nh thành không gian trao đổi văn hóa
rộng lớn, góp phần định h́nh cách thức Phật giáo bén rễ tại vùng
Đông Bắc Á.
Phù điêu trên
bia đá Phật giáo có niên đại thế kỷ IX của vương quốc Bột Hải (Balhae),
quốc gia từng trải rộng trên phần lớn vùng Đông Bắc Trung Quốc, Bắc
Triều Tiên và khu vực đông nam nước Nga ngày nay.
Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Ohara (Nhật Bản) / Flickr Creative Commons.
Vương quốc Balhae (Bột Hải, 698-926) từng cai
quản một quốc gia rộng lớn trải dài trên khu vực Bắc Triều Tiên và
miền Đông Măn Châu ngày nay. Các phát hiện khảo cổ học cho thấy nơi
đây từng tồn tại nhiều tự viện cùng các di vật Phật giáo phong phú,
chứng tỏ Phật giáo đă phát triển vững chắc thông qua mối quan hệ với
nhà Đường, vương quốc Tân La (Silla) và Nhật Bản.
Đến thế kỷ XII, người Nữ Chân (Jurchen), cư dân
bản địa vùng trung tâm Măn Châu thành lập triều Kim (Jin,
1115-1234), cai trị quê hương của ḿnh cùng nhiều vùng rộng lớn ở
miền bắc Trung Quốc. Triều Kim kế thừa các mạng lưới Phật giáo từ
các khu vực lân cận, đồng thời bảo trợ việc xây dựng tự viện, đền
thờ và các quần thể hang động Phật giáo. Chính quyền cũng đặt tăng
đoàn dưới sự quản lư của nhà nước và sử dụng chính sách bảo trợ để
định hướng đời sống nghi lễ.
Trong thế kỷ XIII-XIV, người Mông Cổ đưa Phật
giáo trở thành lực lượng tôn giáo có ảnh hưởng rộng khắp khu vực Nội
Á. Hốt Tất Liệt (Kublai Khan, 1215-1294) thành lập triều Nguyên, đặc
biệt tôn sùng phái Sakya (Tát Ca) của Phật giáo Tây Tạng. Ông thiết
lập cơ quan chuyên trách quản lư các tự viện trên toàn đế quốc -
lănh thổ khi ấy trải rộng trên phần lớn Trung Á và Đông Á. Đồng thời,
Hốt Tất Liệt trọng dụng các vị Lạt-ma Tây Tạng làm cố vấn và tạo
điều kiện thuận lợi cho sự lưu chuyển của các bậc đạo sư, kinh điển
và nghệ thuật Phật giáo qua Mông Cổ, Măn Châu và miền Bắc Trung Quốc.
Sự phát triển của Phật giáo tại những khu vực này
luôn gắn bó chặt chẽ với bán đảo Triều Tiên. Từ thời Cao Câu Ly (Goguryeo,
37 trước Tây lịch - 668 Tây lịch) và Bột Hải (Balhae, 698-926) cho
đến thời kỳ hưng thịnh của vương triều Cao Ly (Goryeo, 918-1392),
các triều đ́nh Triều Tiên thường xuyên trao đổi tăng sĩ, kinh điển
và các sứ đoàn với Măn Châu và Mông Cổ, tạo điều kiện để tư tưởng,
nghệ thuật và h́nh tượng Phật giáo lưu chuyển rộng khắp các vùng
thảo nguyên Đông Bắc Á.
Đến thế kỷ XVII, hậu duệ của người Nữ Chân là
người Măn Châu (Manchu) lật đổ triều Minh (1368-1644) và thành lập
triều Thanh (1644-1912). Một lần nữa, Trung Quốc được cai trị bởi
một triều đại không thuộc người Hán xuất thân từ vùng Đông Bắc. Để
củng cố quyền lực đối với các bộ lạc Mông Cổ và những khu vực chịu
ảnh hưởng của Phật giáo Tây Tạng, các hoàng đế nhà Thanh tích cực
bảo trợ Phật giáo Tây Tạng, tài trợ việc xây dựng tự viện, phát
triển nghệ thuật nghi lễ và tổ chức nhiều dự án dịch thuật kinh điển.
Mặc dù từng trải qua các đợt đàn áp khốc liệt
dưới thời Stalin trong thập niên 1930 cũng như những cuộc thanh
trừng trong Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc, Phật giáo vẫn tiếp tục
giữ vai tṛ là truyền thống tôn giáo quan trọng tại Mông Cổ và các
khu vực lân cận.
So với lịch sử lâu dài của Phật giáo tại châu Á,
sự hiện diện của Phật giáo ở châu Âu và châu Mỹ chỉ là một chương
tương đối mới.
Cộng đồng Phật giáo đầu tiên tại châu Âu xuất
hiện từ thế kỷ XVII, khi người Mông Cổ ở miền Tây Mông Cổ di cư đến
lưu vực sông Volga và thực hành một truyền thống Phật giáo Tây Tạng
tại khu vực ngày nay là Cộng ḥa Kalmykia (Liên bang Nga).
Das
Buddhistische Haus tại Berlin (Đức) là quần thể tu viện Theravāda
lâu đời và quy mô lớn nhất châu Âu.
Công tŕnh được bác sĩ người Đức Paul Dahlke sáng lập năm 1924 và
nhanh chóng trở thành
một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng của châu Âu. Nguồn:
Berliner Morgenpost.
Đến thế kỷ XIX, giới học giả châu Âu bắt đầu dành
sự quan tâm ngày càng lớn đối với Phật giáo. Các nhà Đông phương học,
thành viên của Hội Thông Thiên học (Theosophical Society) và nhiều
trí thức phương Tây dịch thuật kinh điển, nghiên cứu các bản thảo cổ,
đồng thời giới thiệu Phật giáo như một hệ thống tư tưởng thay thế
cho những truyền thống tôn giáo quen thuộc ở phương Tây.
Những nền móng đầu tiên của các thiết chế Phật
giáo được h́nh thành vào đầu thế kỷ XX. Năm 1915, chùa Gunzechoinei
Datsan được xây dựng tại Saint Petersburg (Nga), trở thành một trong
những ngôi chùa Phật giáo sớm nhất ở châu Âu. Mặc dù từng chịu nhiều
đợt đàn áp của nhà nước và có thời gian phải ngừng hoạt động, ngôi
chùa của cộng đồng Buryat này vẫn tiếp tục là một trung tâm tu học
cho đến ngày nay.
Năm 1924, bác sĩ người Đức Paul Dahlke thành lập
Das Buddhistische Haus tại Berlin-Frohnau, hiện được xem là tu viện
Theravāda (Thượng tọa bộ) lâu đời nhất ở châu Âu.
Cũng trong năm 1924, Buddhist Lodge tại London
bắt đầu giới thiệu tư tưởng Phật giáo đến giới trí thức Anh. Trong
số các thành viên của tổ chức này có nhà triết học Alan Watts, người
sau này có ảnh hưởng lớn đến cách công chúng Hoa Kỳ tiếp cận và hiểu
về Phật giáo.
Đến năm 1929, những người Kalmyk chạy trốn cuộc
đàn áp của chính quyền Bolshevik đă xây dựng một ngôi chùa tại
Belgrade (Serbia). Dù ngôi chùa ấy không c̣n tồn tại, con đường nơi
chùa từng tọa lạc đến nay vẫn mang tên Budvanska, thường được gọi là
“Phố Phật” (Buddha Street).
Ở bên kia Đại Tây Dương, các cộng đồng nhập cư đă
xây dựng những ngôi chùa đầu tiên từ thế kỷ XIX. Người Hoa và người
Nhật mang theo các truyền thống Đại thừa và Thiền (Zen) đến Hawaii,
California cùng nhiều khu vực khác ngay từ những năm 1850. Người
Nhật cũng xây dựng nhiều ngôi chùa tại Brazil và Peru, trong đó có
chùa Jionji, được thành lập năm 1908.
Tại Bắc Mỹ, năm 1952, cộng đồng người Kalmyk lưu
vong xây dựng ngôi chùa Phật giáo Tây Tạng đầu tiên ở bang New
Jersey. Đến năm 1965, Washington Buddhist Vihara trở thành tu viện
Theravāda đầu tiên được thành lập tại Hoa Kỳ.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt từ
thập niên 1960, sự quan tâm của phương Tây đối với Phật giáo gia
tăng mạnh mẽ. Nhiều học giả và trí thức phương Tây chịu ảnh hưởng từ
các nhà tư tưởng châu Á, tiêu biểu là D. T. Suzuki (1870-1966).
Cùng thời kỳ đó, nhiều vị thầy nổi tiếng như
Thích Nhất Hạnh, Chögyam Trungpa và Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đă xây
dựng các mạng lưới hoằng pháp, trung tâm thiền tập và truyền thống
giảng dạy trải rộng khắp châu Âu và châu Mỹ. Làng Mai (Plum Village)
tại Pháp, do Thiền sư Thích Nhất Hạnh sáng lập, đến nay vẫn là một
trong những trung tâm thực tập Phật giáo nổi tiếng nhất ở phương Tây.
Đến thập niên 1980, nhiều cộng đồng Theravāda quy
mô lớn đă h́nh thành, tiêu biểu như Wat Buddhanusorn tại Fremont,
California; gần đây hơn là Wat Nawamintararachutis tại Boston,
Massachusetts.
Khi Phật giáo ngày càng trở nên quen thuộc với xă
hội phương Tây, nhiều thuật ngữ như karma (nghiệp), nirvana (Niết-bàn)
và bodhisattva (Bồ Tát) đă đi vào các từ điển tiếng Anh cũng như văn
hóa đại chúng. Ngay cả các nghệ sĩ đương đại, như nữ ca sĩ nổi tiếng
Taylor Swift, cũng nhắc đến khái niệm karma trong các sáng tác của
ḿnh.
Ngày nay, chùa Phật giáo đă trở thành h́nh ảnh
quen thuộc tại nhiều thành phố và thị trấn ở phương Tây, đồng thời
hiện diện cả tại những vùng nông thôn xa xôi.
Từ những cộng đồng nhập cư nhỏ bé ban đầu, Phật
giáo đă từng bước trở thành một thành tố quan trọng trong đời sống
tôn giáo của phương Tây. Hiện nay, với tư cách là một truyền thống
toàn cầu, Phật giáo tiếp tục góp phần làm phong phú bức tranh văn
hóa và tôn giáo tại châu Âu và châu Mỹ.
Khi Phật giáo lan rộng trên phạm vi toàn cầu
trong thế kỷ XIX và XX, nhiều phong trào Phật giáo mới đă xuất hiện
bên ngoài khuôn khổ truyền thống của các tự viện và hệ thống truyền
thừa. Những tổ chức này trở thành những tác nhân quan trọng trong
việc phổ biến Phật pháp, tŕnh bày giáo lư bằng những h́nh thức phù
hợp với nhiều đối tượng độc giả và người học vượt ra ngoài phạm vi
chùa chiền.
Deekshabhoomi
tại Nagpur (Ấn Độ) là thánh địa hành hương của truyền thống Navayāna,
phong trào Phật giáo mới gắn với tư tưởng của B. R. Ambedkar. Đây là
nơi đánh dấu sự kiện Ambedkar cùng khoảng 400.000 người đi theo ông
chính thức quy y Phật giáo. Nguồn: Mahendra Dayare / Wikimedia
Creative Commons.
Các phong trào này đặc biệt nhấn mạnh tính dễ
tiếp cận của giáo pháp, vai tṛ của hàng cư sĩ, giáo dục và các hoạt
động phụng sự xă hội. Nhờ đó, Phật giáo hiện diện tại nhiều không
gian mà trước đây các thiết chế truyền thống khó có điều kiện tiếp
cận.
Vào giữa thế kỷ XX tại Nhật Bản, Soka Gakkai
International (SGI) phát triển từ một phong trào cư sĩ thuộc truyền
thống Nichiren (Nhật Liên tông) trở thành một tổ chức Phật giáo có
quy mô toàn cầu. SGI phổ biến thực hành tụng niệm và tích cực thúc
đẩy các hoạt động v́ ḥa b́nh.
Năm 1967, Cộng đồng Phật giáo Triratna (Triratna
Buddhist Community, trước đây mang tên Friends of the
Western Buddhist Order) được thành lập tại Anh. Phong trào này
giới thiệu Phật giáo đến nhiều đối tượng mới thông qua việc kết hợp
các phương pháp thực hành của nhiều truyền thống Phật giáo châu Á.
Từ thập niên 1970, các tổ chức chịu ảnh hưởng của
Phật giáo Tây Tạng như Shambhala, Diamond Way và New Kadampa
Tradition mở rộng hoạt động tại châu Âu và châu Mỹ, thu hút đông đảo
người theo học thông qua uy tín của các vị đạo sư cùng những cách
diễn giải mới về giáo lư.
Tại Ấn Độ sau khi giành độc lập, phong trào
Ambedkarite phát triển mạnh mẽ sau sự kiện B. R. Ambedkar quy y Phật
giáo vào năm 1956. Phong trào này góp phần phục hưng Phật giáo trong
cộng đồng Dalit, nơi truyền thống Phật giáo từng gần như biến mất
trong nhiều thế kỷ.
Các tổ chức Phật giáo Trung Hoa cũng giữ vai tṛ
nổi bật trong quá tŕnh hiện đại hóa và quốc tế hóa Phật giáo. Năm
1967, Hsing Yun (1927-2023) sáng lập Phật Quang Sơn (Fo Guang Shan)
cùng tổ chức cư sĩ trực thuộc Hiệp hội Quốc tế Phật Quang (Buddha’s
Light International Association).
Đến năm 1976, Sheng-yen (1931-2009) bắt đầu hoằng
pháp tại phương Tây và đến năm 1989 sáng lập Pháp Cổ Sơn (Dharma
Drum Mountain) tại Đài Loan. Cả hai vị đều xây dựng những mạng lưới
tăng đoàn và cư sĩ quy mô lớn, đồng thời đầu tư mạnh vào giáo dục,
xuất bản và các hoạt động hoằng pháp quốc tế.
Các phong trào mới tiếp tục mở rộng phạm vi
truyền bá Phật giáo bằng cách gắn kết với xu hướng thực hành chính
niệm (mindfulness) và thiền định (meditation) đang ngày càng phổ
biến trên thế giới. Từ cuối thế kỷ XX, các phương pháp này được giới
thiệu như những công cụ mang tính phổ quát, được ứng dụng trong
trường học, nơi làm việc và các chương tŕnh trị liệu tâm lư.
Đối với nhiều tổ chức Phật giáo, đây vừa là
phương tiện giới thiệu truyền thống của ḿnh, vừa giúp hàng triệu
người trên thế giới tiếp cận các phương pháp thực hành có nguồn gốc
từ Phật giáo.
Bằng cách thích ứng với nhu cầu của xă hội hiện
đại và những nhóm công chúng mới, các phong trào này đă đưa giáo
pháp của đức Phật đến với khu dân cư, trường học và cả nền văn hóa
đại chúng. Trên thực tế, sự xuất hiện liên tục của các phong trào
mới luôn là một phần trong lịch sử phát triển của Phật giáo. Ngay từ
khi đức Phật bắt đầu thuyết pháp, cộng đồng đệ tử của Ngài cũng từng
là một phong trào tôn giáo mới trong bối cảnh xă hội đương thời.
Ngay từ buổi đầu h́nh thành, Phật giáo đă là một
truyền thống không ngừng vận động. Chính đức Phật đă du hành qua
nhiều vùng đất để truyền dạy giáo pháp. Sau khi Ngài nhập Niết-bàn,
những địa điểm gắn với Đản sinh, Thành đạo, Chuyển Pháp luân và Nhập
Niết-bàn trở thành các trung tâm hành hương đầu tiên của thế giới
Phật giáo.
Những cuộc hành tŕnh của người hành hương,
thương nhân và khách lữ hành đă góp phần quan trọng đưa giáo lư và
thực hành Phật giáo lan tỏa đến nhiều khu vực khác nhau trên thế
giới.
Lumbinī (Lâm
Tỳ Ni) - nơi đức Phật đản sinh, là một trong những thánh địa hành
hương quan trọng nhất của thế giới.
Đền Māyādevī hiện nay được xây dựng trên nền di tích của quần thể cổ,
bên cạnh hồ nước nơi Hoàng hậu Māyā được truyền thống cho là đă thực
hiện nghi lễ tắm gội trước khi hạ sinh Thái tử Tất-đạt-đa. Xung
quanh khu vực tu viện tại Lumbinī, nhiều truyền thống Phật giáo trên
khắp thế giới đă xây dựng chùa, tự viện và bảo tháp của riêng ḿnh.
Nguồn: Rajeshdulal / Wikimedia Commons.
Khi Phật giáo tiếp tục phát triển, nhiều thánh
địa mới lần lượt xuất hiện, h́nh thành một mạng lưới hành hương rộng
lớn. Những địa điểm tiêu biểu gồm chùa Shwedagon tại Myanmar,
Borobudur ở Indonesia, núi Kōya (Kōyasan) tại Nhật Bản và núi
Kailash ở Tây Tạng.
Các tuyến hành hương này thường trùng với những
con đường thương mại và giao thông chính thức, kết nối các tự viện
và đô thị, qua đó thúc đẩy sự giao lưu giữa các cộng đồng Phật giáo.
Tầm ảnh hưởng của các tuyến đường ấy thay đổi theo từng thời kỳ lịch
sử, đôi khi c̣n làm biến đổi các truyền thống địa phương. Ngày nay,
với sự phát triển của giao thông hiện đại, những thánh địa này cùng
nhiều địa điểm Phật giáo khác thu hút đông đảo khách hành hương và
du khách từ khắp nơi trên thế giới.
Hoạt động hành hương ngày nay đă trở thành cầu
nối giữa truyền thống địa phương và cộng đồng Phật giáo toàn cầu.
Tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgayā), nơi đức Phật thành đạo hiện có nhiều
ngôi chùa đại diện cho các truyền thống Phật giáo khác nhau cùng
hiện diện. Hằng năm, các cộng đồng Phật giáo từ nhiều quốc gia quy
tụ về đây, đồng thời vẫn ǵn giữ những tập tục riêng của ḿnh tại
quê hương.
Những cuộc gặp gỡ xuyên truyền thống tương tự
cũng diễn ra tại nhiều thánh tích khác gắn liền với cuộc đời đức
Phật ở Ấn Độ, góp phần tạo nên nền tảng chung cho cộng đồng Phật
giáo toàn cầu.
Hành hương cũng giúp mở rộng sự hiểu biết về tính
đa dạng của Phật giáo. Các nghi lễ trong tự viện và lễ hội truyền
thống thu hút đông đảo khách tham dự, trong khi mỗi ngày có hàng
ngh́n h́nh ảnh về các thánh tích và sinh hoạt Phật giáo được chia sẻ
trên mạng xă hội.
Các vị xuất gia thường xuyên tham gia các chuyến
hoằng pháp quốc tế, giới thiệu đến công chúng những h́nh thức thực
hành như tụng kinh, kiến tạo mandala cát (sand mandala) và các nghi
lễ truyền thống. Nhờ đó, nhiều người ở những nơi rất xa châu Á vẫn
có cơ hội trực tiếp trải nghiệm các giá trị văn hóa và tâm linh của
Phật giáo.
Sau mỗi chuyến hành hương, nhiều người mang về
quê hương các bản nghi thức, h́nh tượng tôn giáo và những câu chuyện
trải nghiệm của ḿnh. Chính những yếu tố ấy tiếp tục định h́nh đời
sống Phật giáo tại các cộng đồng địa phương. Ngày nay, văn hóa và
nghi lễ Phật giáo đă có thể vượt qua biên giới quốc gia một cách dễ
dàng hơn bao giờ hết.
Sự phát triển của các phương tiện giao thông hiện
đại đă rút ngắn đáng kể những hành tŕnh mà trước đây phải mất nhiều
tháng, thậm chí nhiều năm mới có thể hoàn thành. Đồng thời, nhiều
thánh địa Phật giáo mới cũng đang được kiến lập bên ngoài châu Á, mở
ra những tuyến hành hương mới cho cộng đồng Phật tử trên toàn thế
giới.
Một số địa điểm được xây dựng theo truyền thống Á
Đông, trong khi nhiều nơi lại mang đậm bản sắc địa phương. Chẳng hạn,
phần mộ của nhà văn Mỹ Jack Kerouac hiện được nhiều người ngưỡng mộ
xem như một địa điểm mang ư nghĩa hành hương Phật giáo.
Bên cạnh đó, nhiều công tŕnh chùa và bảo tháp
quy mô lớn được xây dựng tại châu Âu và châu Mỹ đă trở thành trung
tâm tổ chức các khóa tu, lễ hội và những cuộc gặp mặt thường niên
quy tụ Phật tử thuộc nhiều truyền thống khác nhau.
Tiến tŕnh hành hương vẫn không ngừng thích nghi
với những bối cảnh văn hóa mới, tiếp tục đưa các truyền thống Phật
giáo đến với những vùng đất và cộng đồng trên khắp thế giới.
Bước sang thế kỷ XXI, Phật giáo đang đứng trước
một bước ngoặt mới, được định h́nh bởi tiến tŕnh toàn cầu hóa, sự
phát triển của công nghệ và những biến đổi trong hệ giá trị văn hóa
của nhân loại. Giáo lư và các phương pháp thực hành Phật giáo đă
vượt ra ngoài phạm vi những vùng đất truyền thống, tiếp cận hàng
triệu người trên khắp thế giới, đồng thời đặt ra nhiều câu hỏi mới
về tương lai của truyền thống tôn giáo này.
Blue
Buddha (Đức Phật Xanh). Nhiếp ảnh: Trajita Daimari / Pexels Creative
Commons.
Tại nhiều thành phố phương Tây, các truyền thống
Phật giáo hiện diện song song trong cùng một không gian. Trên cùng
một con phố có thể bắt gặp một ngôi chùa Theravāda (Thượng tọa bộ),
một trung tâm Phật giáo Tây Tạng và một nhóm thực hành Dharma theo
định hướng thế tục. Bên cạnh đó, nhiều tư tưởng và phương pháp của
Phật giáo cũng đă hiện diện trong những môi trường không mang tính
tôn giáo, khi chính niệm (mindfulness) và thiền định (meditation)
ngày càng được ứng dụng rộng răi trong doanh nghiệp, trường học và
các chương tŕnh chăm sóc sức khỏe tâm thần.
Ở châu Á, các cộng đồng Phật giáo đang thích ứng
với tốc độ hiện đại hóa ngày càng nhanh, đồng thời đối mặt với thực
trạng suy giảm ảnh hưởng của tăng đoàn tại một số quốc gia. Những
thách thức về môi trường, kinh tế và biến động chính trị cũng tác
động trực tiếp đến các thánh địa hành hương, hệ thống tự viện và đời
sống của cộng đồng Phật giáo.
Tuy nhiên, thời đại hiện nay cũng mở ra nhiều cơ
hội chưa từng có. Giao thông quốc tế giúp người học dễ dàng tiếp cận
các bậc đạo sư, kinh điển và cộng đồng tu học ở nhiều quốc gia khác
nhau. Trong khi đó, các buổi phát trực tiếp (livestream), podcast và
YouTube tiếp tục mở rộng phạm vi lan tỏa của giáo pháp.
Các thư viện số và kho kinh điển điện tử đă giúp
kinh văn cùng các bộ luận trở nên dễ tiếp cận hơn bao giờ hết. Ngay
cả những người sống tại vùng sâu, vùng xa cũng có thể nghiên cứu
Phật học, học tiếng Pāli hoặc Sanskrit, theo dơi các bậc giảng sư
nổi tiếng mà không nhất thiết phải đến chùa hay tự viện. Đối với một
số vị giảng sư, việc thường xuyên hoằng pháp khắp nơi và xây dựng
cộng đồng trực tuyến ngày nay đă dần thay thế mục tiêu duy tŕ những
đạo tràng hay trung tâm hoằng pháp cố định.
Sự thích ứng với môi trường số đồng thời mang lại
cả cơ hội lẫn thách thức. Các cộng đồng trực tuyến trên Discord,
Reddit và Facebook tạo ra không gian để thảo luận, học tập và hỗ trợ
lẫn nhau. Những khóa thiền trực tuyến giúp tiết kiệm chi phí và vượt
qua rào cản khoảng cách địa lư. Tuy nhiên, việc thiếu đi sự tương
tác trực tiếp giữa thầy và tṛ cũng có thể làm suy giảm những h́nh
thức hướng dẫn cá nhân và đời sống tu học cộng đồng vốn từ lâu được
xem là nền tảng của con đường thực hành Phật giáo.
Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo
(AI) được dự báo sẽ tiếp tục thúc đẩy những chuyển biến này, mặc dù
tác động lâu dài của công nghệ đối với cộng đồng Phật giáo vẫn c̣n
là một câu hỏi để ngỏ.
Nh́n về tương lai, tiến tŕnh truyền bá Phật giáo
nhiều khả năng sẽ tiếp tục được quyết định bởi những yếu tố đang
hiện diện ngay hôm nay: sự thuận lợi của giao thông và dịch thuật;
hạ tầng công nghệ số; cùng sức sống của các thiết chế Phật giáo tại
từng địa phương.
Khi giáo pháp tiếp tục hiện diện trong lớp học,
cơ sở y tế, các mạng lưới trực tuyến cũng như theo bước chân của
những người hành hương và lữ khách kết nối các cộng đồng trên toàn
thế giới, chính những người thực hành sẽ quyết định đâu là những giá
trị cần được ǵn giữ và đâu là những phương diện có thể thích nghi
với bối cảnh mới.
Trong tương lai gần, Phật giáo nhiều khả năng sẽ
phát triển thông qua mạng lưới các trung tâm kết nối đa dạng từ chùa
chiền, tu viện, trung tâm tu học, thư viện số đến các nền tảng trực
tuyến, nơi giáo pháp tiếp tục được truyền bá, trao đổi và lan tỏa
vượt qua mọi biên giới quốc gia.
[Thay lời kết
Lịch sử truyền bá Phật giáo không chỉ là câu
chuyện về sự mở rộng của một tôn giáo, mà c̣n phản ánh lịch sử của
những cuộc gặp gỡ giữa các nền văn minh, các cộng đồng và những
người cùng đi t́m lời giải cho những vấn đề căn bản của đời sống. Từ
lưu vực sông Hằng hơn hai mươi lăm thế kỷ trước, giáo pháp của đức
Phật đă theo bước chân của các vị tăng sĩ, thương nhân, dịch giả,
người hành hương và hàng triệu cư sĩ để vượt qua núi cao, sa mạc,
đại dương và biên giới quốc gia, h́nh thành nên một trong những
truyền thống văn hóa - tâm linh có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong
lịch sử nhân loại.
Điều đáng chú ư là, trên hành tŕnh ấy, Phật
giáo không lan tỏa bằng sự áp đặt hay đồng nhất hóa các nền văn hóa,
mà luôn thể hiện năng lực đối thoại, tiếp biến và thích ứng với
những điều kiện lịch sử khác nhau. Chính khả năng giữ vững những giá
trị cốt lơi của Chính pháp trong khi vẫn mở ra không gian cho sự đa
dạng về ngôn ngữ, nghệ thuật, tư tưởng và h́nh thức thực hành đă tạo
nên sức sống lâu bền của Phật giáo qua nhiều thời đại.
Ngày nay, khi thế giới bước vào kỷ nguyên số
với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, truyền thông số và
các mạng lưới kết nối toàn cầu, phương thức truyền bá Phật giáo tiếp
tục có nhiều đổi thay. Tuy nhiên, công nghệ chỉ có thể mở rộng khả
năng tiếp cận giáo pháp, c̣n việc chuyển hóa khổ đau, nuôi dưỡng trí
tuệ và ḷng từ bi vẫn luôn khởi đầu từ sự thực hành nơi mỗi người.
Đó cũng là giá trị xuyên suốt mà các truyền thống Phật giáo, dù
thuộc bất kỳ quốc gia hay tông phái nào, đều cùng hướng đến.
Nh́n từ tiến tŕnh hơn hai thiên niên kỷ, có
thể thấy lịch sử truyền bá Phật giáo không khép lại ở quá khứ mà vẫn
đang tiếp tục được viết nên trong hiện tại. Mỗi thế hệ đều đứng
trước trách nhiệm ǵn giữ tinh thần giác ngộ, đồng thời sáng tạo
những phương thức phù hợp để Chính pháp tiếp tục đồng hành cùng nhân
loại trước những biến đổi không ngừng của thời đại. Bởi lẽ, điều làm
nên sức sống của Phật giáo chưa bao giờ chỉ là sự hiện diện của chùa
tháp, kinh điển hay thiết chế, mà trước hết là khả năng nuôi dưỡng
đời sống tỉnh thức, hiểu biết và từ bi trong mỗi cá nhân và cộng
đồng].
Nguồn dịch: Biên dịch từ bài
The Spread of Buddhism, có đối chiếu và hiệu đính thuật ngữ
theo các công tŕnh nghiên cứu lịch sử Phật giáo của Richard
Gombrich, Peter Harvey, Donald S. Lopez Jr., Gregory Schopen và một
số tài liệu Phật học hiện đại.
Bài viết được biên dịch từ nguồn tiếng Anh, có
hiệu đính thuật ngữ và bổ sung lời dẫn, lời kết, cùng tài liệu gợi ư
đọc thêm phục vụ độc giả Việt Nam.